§ V. ĐÔNG NAM Á - PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ NHỮNG NĂM 20 ĐẾN 1945
A A+
§ V. ĐÔNG NAM Á - PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ NHỮNG NĂM 20 ĐẾN 1945

§ V. ĐÔNG NAM Á - PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC  TỪ NHỮNG NĂM 20 ĐẾN 1945.

          1. Vài nét khái quát

          Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX những tư tưởng dân chủ tư sản đã xuất hiện và có ảnh hưởng mạnh mẽ ở Đông Nam Á. Sự ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản vào Đông Nam Á đi theo nhiều con đường khác nhau nhưng trực tiếp nhất vẫn là từ công cuộc duy tân của Minh Trị ở Nhật Bản, cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ và chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc. Cùng với quá trình hình thành quan hệ tư bản chủ nghĩa ở Đông Nam Á và sự phát triển của ý thức dân tộc ở khu vực này, những tư tưởng dân chủ tư sản đã thổi vào Đông Nam Á  một làn gió mới, một ý niệm mới vượt qua khuôn khổ của tư tưởng phục hồi các vương triều phong kiến, hướng tới chế độ dân chủ tiến bộ hơn. Quá trình mở cửa ra thế giới bên ngoài, tiến hành chấn hưng đất nước thông qua các cuộc cải cách của Chulalongcon(1868 - 1910) ở Thái Lan đã giúp nước này thoát khỏi địa vị thuộc địa, đồng thời cũng nói lên những ảnh hưởng của cuộc cải cách ở Nhật Bản đối với khu vực. Vương quốc Xiêm đã sử dụng con đường ngoại giao để giữ vững vương quyền, thu hồi các vùng lãnh  thổ và mở đường cho Xiêm đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, trường hợp Xiêm chỉ nói lên tính chất độc đáo của khu vực cũng như chỉ ra một khả năng thoát khỏi thân phận thuộc địa. Ở các nước khác, làn gió dân chủ tư sản đã tạo nên không khí chính trị sôi động của các cuộc đấu tranh đòi độc lập dân tộc. Cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc đã mang những nội dung mới và có những hình thức mới. Đó là sự xuất hiện các học hội hay trường học như Đông kinh nghĩa thục ở Việt Nam, Buđi Utômô ở Inđônêxia... hay việc mở rộng truyền bá nền giáo dục mới với ý thức phục hưng dân tộc, phát triển kinh tế đất nước và tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật mới... Các tổ chức chính trị được thành lập và họat động tích cực như: Ở Inđônêxia có "Hội thương nhân Hồi giáo", sau đó đổi thành "Hiệp hội Hồi giáo", ở Mãlai có phong trào cải cách tôn giáo "Kaummuda", ở Miến Điện có " Hội thanh niên Phật giáo Miến Điện ", ở Việt Nam có Duy tân hội và Quang phục hội... Những họat động này đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc của nhân dân Đông Nam Á, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh phát triển trong giao đoạn tiếp theo. 

          Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước đế quốc càng tăng cường chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa để giải quyết những khó khăn trong nước, do vậy đời sống của nhân dân Đông Nam Á càng trở nên cùng cực, mâu thuẫn dân tộc với đế quốc càng thêm sâu sắc. Những biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội ở Đông Nam Á do chính sách khai thác thuộc địa của các nước đế quốc mang lại cùng với sự ảnh hưởng to lớn của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga đã dẫn đến sự xuất hiện và phát triển một xu hướng mới trong cuộc đấu tranh dành độc lập Đông Nam Á: xu hướng vô sản.

          Cùng với xu hướng tư sản đã xuất hiện từ trước, xu hướng vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á đã nhanh chóng phát triển. Trong giai đoạn này nhiều đảng cộng sản đã xuất hiện trong khu vực. Tháng 5 năm 1920, Đảng Cộng sản Inđônêxia được thành lập và nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị quan trọng, đại diện cho những nguyện vọng của nhân dân Inđônêxia. Tiếp theo, tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đứng ra lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ba nước Đông Dương (tháng 10 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương). Cũng trong năm 1930, Đảng Cộng sản Xiêm, Mã lai và Philippin được thành lập (vào tháng 4 và tháng 11). Ở Miến Điện, Đảng Cộng sản được thành lập năm 1939... Dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở một số nước trong khu vực đã vùng dậy đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc (Inđônêxia, Việt Nam, Miến Điện...).

          Cùng với xu hướng vô sản, trong những năm 20,30, phong trào dân tộc tư sản đã có những bước tiến rõ rệt. Mục tiêu của phong trào không chỉ là họat động chính trị để khai trí, chấn hưng quốc gia mà nó được đề xuất rõ ràng: đòi quyền tự chủ về chính trị, quyền tự do kinh doanh... đồng thời, các chính đảng của tư sản dân tộc đã được thành lập, có tôn chỉ, mục đích rõ ràng thay cho các hội, nhóm của tầng lớp sỹ phu phong kiến tiến bộ ở giai đoạn trước. Lực lượng đóng vai trò nổi bật trong phong trào dân chủ tư sản ở giai đoạn này là tầng lớp trí thức. Với những ảnh hưởng của các tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây cũng như của các phong trào dân tộc ở Ấn Độ, Trung Quốc, tầng lớp trí thức tiểu tư sản trở thành bộ phận cấp tiến trong giai cấp tư sản và tiểu tư sản, là ngòi nổ trong những cuộc đấu tranh ở Đông Nam Á. Chẳng hạn như: các cuộc đấu tranh đòi cải cách quy chế đại học đòi tự trị của sinh viên Miến Điện trong những năm 30 đã dẫn đến "Phong trào Thakin'',  (có nghĩa là những người chủ đất nước); phong trào đấu tranh chống thực dân Anh, đòi quyền tự trị của nhân dân Mãlai cũng phát triển từ phong trào đòi cải cách Hồi giáo và dùng tiếng Mãlai trong nhà trường ; ở Inđônêxia, Đảng Dân tộc được thành lập năm 1927, do Xucácnô đứng đầu, đã nhanh chóng thu hút các lực lượng dân tộc để tổ chức Đại hội nhân dân Inđônêxia (gồm 90 đảng phái và tổ chức chính trị) vào năm 1931, biểu thị sự thống nhất dân tộc, thông qua các nghị quyết về ngôn ngữ, quốc huy, quốc ca...

          Mặc dù có sự khác biệt về ý thức hệ nhưng cả xu hướng vô sản và tư sản cùng song song tồn tại trong phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á, trong một chừng mực nhất định, cả hai xu hướng đã có lúc kết hợp với nhau. Sở dĩ có điều đó là vì đối với nhân dân Đông Nam Á, mục tiêu giải phóng dân tộc là lớn nhất và kẻ thù lớn nhất của tất cả các lực lượng là chủ nghĩa đế quốc. Đây là tiền đề khách quan cho sự ra đời các mặt  trận dân tộc thống nhất sau này.

          Năm 1940, phát xít Nhật tràn vào Đông Nam Á. Lợi dụng ''chính sách Muy-ních phương Đông'', Nhật bản đã nhanh chóng chiếm trọn khu vực này từ nay các nước Âu, Mỹ. Cuộc sống của nhân dân Đông Nam Á càng trở nên khốn quẫn hơn do những  chính sách phát xít của Nhật Bản. Cũng từ đây, nhân dân Đông Nam Á chĩa mũi nhọn của cuộc đấu tranh vào phát xít Nhật. Do vậy, nét mới trong phong trào giải phóng ở Đông Nam Á giai đoạn này là sự ra đời mặt trận dân tộc thống nhất và lực lượng vũ trang cách mạng ở hầu hết các nước. Chẳng hạn như: ở Việt Nam có Việt Nam độc lập đồng minh và các đội cứu quốc quân, sau đó là Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, ở Philippin có Đồng minh dân chủ Philippin với đội quân Húcbalaháp trong những năm 1942 -1944, ở Mãlai có Liên hiệp Mãlai chống Nhật cùng các đơn vị Quân đội nhân dân, ở Miến Điện có Liên hiệp tự do nhân dân chống phát xít cùng với Quân đội quốc gia Miến Điện...

          Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc của các nước trong khu vực Đông Nam Á là yếu tố quyết định để nhân dân các nước này đứng lên chớp thời cơ, tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước. Thời cơ đó xuất hiện với sự thất bại của chủ nghĩa phát xít trên thế giới, đặc biệt là thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Nhân dân các nước Inđônêxia, Việt Nam và Lào đã đứng lên chớp thời cơ, tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tuyên bố nền độc lập của mình. Đặc biệt, với tầm vóc vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám và bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, cuộc cách mạng ở Việt Nam trở thành một trường hợp điển hình của phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á và trên thế giới. Ở các nước khác, các lực lượng yêu nước và quân đội vũ trang đã anh dũng chống phát xít Nhật, giải phóng phần lớn đất đai trong nước. Tuy nhiên, thời cơ giành độc lập ở các nước này đã bị bỏ lỡ bởi quân đội các nước đế quốc đã quay trở lại dưới danh nghĩa (hoặc nấp bóng) các nước Đồng minh. Dã tâm của chủ nghĩa đế quốc cùng với những thỏa thuận của các nước Đồng minh đã buộc nhân dân Đông Nam Á phải tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong nhiều năm.

          2. Cuộc đấu tranh của nhân dân Lào chống thưc dân Phap và thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười năm 1945..

          Năm 1983, thực dân Pháp ép buộc triều đình Băngkốc phải ký kết hoà ước thừa nhận quyền đô hộ của Pháp ở Lào, biến Lào trở thành một xứ của Đông Dương thuộc Pháp. Cũng từ đây, cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân đất nước Triệu Voi để dành độc lập dân tộc đã diễn ra hoà chung với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, Campuchia. Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh do ông Kẹo và Commađam lãnh đạo (1901-1936), phong trào đấu tranh của nhân dân Xavanakhet do Mèo Ca Duột lãnh đạo (1902), cuộc khởi nghĩa của nhân dân Mèo (Lào Xủng) ở vùng núi cao Bắc Lào do Chao Pha Pachay khởi xướng (1918-1921). Ngoài các phong trào lớn này, trong những năm 20 của thế kỷ XX, ở Lào còn có những phong trào chống Pháp lẻ tẻ nổ ra nơi này nơi khác, chẳng hạn như phong trào Luông Văn, Phu Vông ở Hạ Lào, phong trào Khukhăn ở Viêngchăn, phong trào của người Khạ Phu Nọi, người Co, người Lự ở Bắc Lào v.v... Tất cả các cuộc đấu tranh đã nói lên ý chí quật cường và khả năng cách mạng của nhân dân Lào. Tuy nhiên, do các phong trào nổ ra đều mang tính chất tự phát, lẻ tẻ, không có đường lối lãnh đạo đúng đắn nên đều đi đến thất bại.

      Mặc dù đã thiết lập chế độ cai trị ở  Lào hơn 30 năm nhưng những chính sách của thực dân Pháp vẫn làm cho nước Lào hầu như còn đứng bên rìa quỹ đạo của nền kinh tế thực dân. Tuy nhiên, vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX, tư bản Pháp đã đẩy mạnh hơn nữa việc đầu tư khai thác thuộc địa Đông Dương, trong đó Lào cũng được chú ý hơn. Mặc dù vậy, những nhân tố mới trong đời sống kinh tế xã hội Lào vẫn còn ít ỏi, ở Lào mới có mấy chục người có bằng thành chung (cấp 2), mươi người có bằng tú tài (cấp 3) hoặc cao đẳng sư phạm và 14 y, dược sỹ. Cả nước có 13.775 phu làm đường. Dù rằng những con số này chứng tỏ chưa thể nói đến một tầng lớp trí thức và một giai cấp công nhân ở Lào trong giai đoạn này, nhưng đó là những nhân tố hết sức quan trọng tạo ra sự biến chuyển mới của cách mạng Lào. Tầng lớp này dù rất ít ỏi, nhưng có điều kiện để thu nhận được những tư tưởng cấp tiến nhờ học vấn và tiếp xúc với một bộ phận người Việt ... Vai trò của tầng lớp này càng trở nên quan trọng hơn khi mà giai cấp phong kiến Lào không còn ảnh hưởng gì ngoài làm tay sai cho Pháp, khi ở Lào không có điều kiện cho sự ra đời của tư sản dân tộc, và khi các cuộc khởi nghĩa đều đi đến thất bại.

          Trong bối cảnh nêu trên, ngày 3 tháng2 năm1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của phong trào cách mạng của ba nước nói chung, của cách mạng Lào nói riêng. Đến năm 1933 Đảng Cộng sản Đông Dương mới bắt đầu có những họat động ở Lào và năm 1935,một số chi bộ cộng sản đã được tổ chức, họat động ở các thị xã thành phố lớn như Viêngchăn, Luông Phabăng, Savanakhẹt, Pacsê...Đầu năm1936, các cuộc đấu tranh của công nhân đã bắt đầu diễn ra, đầu tiên ở ngành khai thác mỏ, tiếp đó là của phu làm đường. Cũng từ năm 1936, hoà cùng với phong trào cách mạng Đông Dương, cách mạng Lào đã có những hình thức đấu tranh mới. Nhiều cuộc biểu tình, bãi thị, bãi khoá nổ ra ở các thành phố, các Hội ái hữu, Tương tế, Thanh niên dân chủ được thành lập, sách báo công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương, của mặt trận dân chủ Đông Dương được phổ biến rộng rãi.

          Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, thực dân Pháp ở Đông Dương hèn nhát đầu hàng bọn quân phiệt Nhật, câu kết với Nhật đàn áp dã man phong trào cách mạng Đông Dương. Từ đây, nhân dân Lào cũng như nhân dân Việt Nam và Campuchia rơi vào cảnh một cổ hai tròng. Dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương, tù năm 1942, phong trào cách mạng ở Lào dần dần được phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1943, quần chúng nhân dân được thu hút rộng rãi vào Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc.

          Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, cao trào chống Nhật chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền đã diễn ra ở Lào. Các nhóm "Lào tự do" (Lào Itxala) được thành lập, thu hút đông đảo các lực lượng quần chúng. Trên cơ sở sự phát triển của phong trào quần chúng, lực lượng vũ trang yêu nước Lào bắt đầu hình thành. Tháng 4 năm 1945, chiến khu Nake( tỉnh Xacon) được thành lập và lực lượng vũ trang cách mạng ra đời. Từ lực lượng ban đầu gồm 40 thanh niên Lào và Việt kiều yêu nước đã nhanh chóng tăng lên 120 chiến sĩ với 16 khẩu súng. Đây là lực lượng nòng cốt để làm cơ sở cho việc xây dựng các đội tự vệ chiến đấu mang tên "tự vệ Itaxala".

       Ngày 13 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam thành công. Những người cách mạng Lào đã sáng suốt chớp thời cơ, kêu gọi "nhân dân Lào đứng lên giành chính quyền từ tay giặc Nhật, không để thực dân Pháp quay trở lại ".

          Tin thắng lợi của Tổng khởi nghĩa 19 - 8 ở Hà Nội được truyền đến Thủ đô Viêngchăn vào ngày 20 - 8 đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ nhân dân Lào vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 23 tháng 8, một cuộc mít tinh lớn của quần chúng cách mạng Viêngchăn có lực lượng vũ trang hỗ trợ, đã được tổ chức tại Chợ Mới, với những khẩu hiệu: "Nước Lào độc lập muôn năm ! Hoan nghênh Việt Nam độc lập!". Trước khí thế mạnh mẽ của quần chúng, viên tỉnh trưởng Viêngchăn ngả  theo cách mạng. Chính quyền cách mạng ở Viêngchăn được thành lập, ra lời kêu gọi nhân dân đoàn kết, bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ đất nước .

          Từ cuối tháng 8 đến thượng tuần tháng 9 năm 1945, phong trào khởi nghĩa đã lan rộng khắp nước Lào: Xavannakhet ngày 23 tháng 8, Thakhet ngày 25 - 8, Xiêng khoảng ngày 27 - 8, Sầmnưa ngày 9 - 9, Phongxalỳ ngày 10 - 9... Trên cơ sở những thắng lợi to lớn đó, ngày 8 tháng 10 năm 1945, Hoàng thân Xuphanuvông đã triệu tập Hội nghị Itxala toàn quốc tại Thàkhẹt. Các đại biểu tham dự Hội nghị đã nhất trí bầu Xuphanuvông làm Chủ tịch Lào Itxala. Các đội vũ trang yêu nước ở Thàkhẹt và Xavanakhẹt được tổ chức thành "Quân vệ quốc Lào". Đây là những nhân tố quan trọng bảo đảm cho cách mạng Lào tiếp tục phát triển mạnh mẽ .

          Ngày 12 tháng 10 năm 1945, Chính phủ lâm thời Itxala được thành lập ở Viêngchăn do Hoàng thân Phátxaxát làm Thủ tướng, Hoàng thân Xuphanuvông giữ chức Bộ trưởng Bộ ngoại giao kiêm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Lào. Chính phủ lâm thời đã công bố bản Tuyên ngôn độc lập, sau đó ban hành Hiến pháp tạm thời, quy định: "Nước Lào là một khối thống nhất, mỗi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật; nhân dân các dân tộc Lào được hưởng mọi quyền tự do trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, mỗi công dân có trách nhiệm tôn trọng pháp luật và bảo vệ quốc gia; chế độ chính trị của nước Lào độc lập là quân chủ lập hiến, chủ quyền thuộc về nhân dân, nhà Vua là quốc trưởng".              

Trước thắng lợi của nhân dân Lào, thực dân Pháp vẫn ngoan cố tìm cách chống phá cách mạng Lào...Chúng câu kết với Mỹ, Anh, sử dụng các lực lượng phản động, đưa quân chiếm đóng cố đô Luông Phabăng (tháng 9 - 1945). Lúc bấy giờ, quân Tưởng cũng kéo vào Luông Phabăng với danh nghĩa giải giáp quân Nhật. Quân Pháp ở Luông Phabăng có hai đại đội được trang bị đầy đủ. Trước tình hình đó, Mặt trận Itxala ra sức tập hợp nhân dân yêu nước Luông phabăng đẩy mạng công cuộc chuẩn bị  khởi nghĩa vũ trang. Ngày 18 tháng 10 năm 1946, Luông Phabăng đã bị bao vây. Quần chúng nhân dân đã nổi dậy đấu tranh vũ trang, chiếm giữ các công sở của địch. Kết quả, ngày 4 tháng 1 năm 1946, 14 tên Pháp sống sót cuối cùng đã phải tháo chạy khỏi Luông Phabăng. Cuộc cách mạng của nhân dân Lào thắng lợi trong phạm vi cả nước.

Thắng lợi của cách mạng Lào năm 1945 là một trong những đỉnh cao của phong trào giải phóng dân tộc trên bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Với thắng lợi này, nhân dân Lào đã tạo nên những tiền đề cho chính mình trong quá trình phát triển tiếp theo của cách mạng.

3. Cuộc đấu tranh của nhân dân Camphuchia chống thực dân Pháp.

Cũng như ở Việt Nam, thực dân Pháp đã thi hành những chính sách thống trị vô cùng tàn bạo đối với nhân dân Camphuchia. Về kinh tế, chúng biến Camphuchia thành thị trường tiêu thụ hàng hoá, khai thác nguyên liệu, bóc lột nhân công và cho vay nặng lãi. Thực dân Pháp nắm giữ toàn bộ các ngành kinh tế chủ chốt của Camphuchia, làm cho ngành thủ công nghiệp phá sản, ruộng đất của nông dân dần tập trung vào tay thực dân Pháp và bọn phong kiến phản động. Ngoài ra, thực dân Pháp còn bóc lột nhân dân bằng hàng trăm thứ thuế khác. Về chính trị mọi quyền hành đều nằm trong tay thực dân Pháp. Song song với chế độ thuộc địa, thực dân Pháp vẫn duy trì, củng cố chế độ phong kiến tay sai. Chúng còn thực hiện các chính sách chia rẽ, gây thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo, bóp nghẹt tất cả các quyền dân chủ của nhân dân. Ngoài ra, trong cuộc chiến trang thế giới Pháp còn bắt hàng ngàn thanh niên Camphuchia đi làm bia đỡ đạn cho chúng. Về văn hoá xã hội, thực dân Pháp triệt để thực hiện các chính sách ngu dân. Trong hơn nửa thế kỷ cai trị, chúng chỉ đào tạo được 2 bác sĩ người địa phương trong số 3 triệu người Khơme. Đến năm 1939, cả nước mới có 8 bác sĩ, 4 dược sĩ...Trong các trường học, thực dân Pháp nhồi sọ cho học sinh hiểu sai lịch sử dân tộc, học bằng chữ Pháp là chính. Với hệ thống nhà tù nhiều hơn trường học, hơn 90% dân số Camphuchia bị mù chữ, các tệ nạn xã hội lan tràn khắp nơi.

Dưới ách áp bức của bọn thực dân phong kiến phản động, nhân dân Camphuchia đã liên tiếp đứng dậy đấu tranh. Lịch sử Camphuchia đã ghi lại những cuộc đấu tranh anh dũng, quật cường của Achaxoa ( 1864 - 1895), phong trào Visanhiêu (1907) và nhiều cuộc đấu tranh vũ trang khác ở Côngpôngtrạch, Battambăng, Xtungcheng trong những năm 1914 - 1918 nhằm chống thuế, chống bắt phu, bắt lính...

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp tăng cường chính sách khai thác thuộc địa của chúng ở Đông Dương nói chụng, ở Camphuchia nói riêng. Mặc dù từ những năm 20 của thế kỷ XX, tư bản Pháp đã bắt đầu xâm nhập vào Camphuchia nhưng nền kinh tế nước này vẫn phát triển rất yếu ớt, bởi lẽ "một chính sách hướng tới công nghiệp hoá xứ này (Đông Dương) sẽ là một tội lỗi"(1). Các đồn điền trồng cao su, ngô, lúa, cà phê, hồ tiêu phục vụ cho xuất khẩu đã tăng lên, đồng thời việc xây dựng đường sá cũng được bắt đầu. Công nghiệp phát triển chậm chạp, chỉ có 3 nhà máy xây xát gạo, 6 nhà máy ép dầu, một số cơ sở khai thác mỏ đá, nhưng lại có tới 8 nhà máy rượu. Đời sống của người dân Camphuchia ngày càng khốn cùng. Theo một cuộc điều tra, vào năm 1937, tỷ lệ tử vong của trẻ em trong thành phố Phnômphênh trung bình chiếm 60% tổng số người chết, và tỷ lệ tử vong của trẻ em trong lứa 1 tuổi chiếm 91%. Sự khốn cùng của nhân dân đã làm cho phong trào đấu tranh tiếp tục phát triển. Đó là phong trào khởi nghĩa của ông Mưnmia ( 1918 -1920), đấu tranh chống thuế của nhân dân tỉnh CôngpôngChư năng (1926), xung đột vũ trang ở Battambăng (1930), cuộc nổi dậy của dân tộc Phanoong ( 1935), phong trào của các nhà sư Acha Miêt và Acha Pơring trong những năm 1930 - 1935. Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh này đều đi đến thất bại do tính chất tự phát, lẻ tẻ và thiếu tổ chức.

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, ở Camphuchia đã xuất hiện những xu hướng mới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc: xu hướng tư sản và vô sản. Xu hướng tư sản đã phát triển mạnh mẽ đặc biệt từ năm 1935, do nhà sư Acha Hem Chiêu đứng đầu. Là một giáo sư trường cao đẳng Phật học, Acha Hem Chiêu chủ trương lợi dụng hình thức thuyết pháp của Phật giáo để vận động lòng yêu nước, chống Pháp trong quần chúng nhân dân. Nhờ vậy, từ năm 1935 phong trào phát triển ở Phnômpênh và nhanh chóng lan rộng. Chủ trương của Acha Hem Chiêu có ảnh hưởng lớn trong các tầng lớp sư sãi, học sinh, thị dân và binh lính Camphuchia. Acha Hem Chiêu thành lập nhóm yêu nước mang tên Độc Lập và ra tờ báo Độc Lập để phát triển phong trào. Từ năm 1942 - 1943, khi phát xít Nhật ngày càng lấn át thực dân Pháp ở Đông Dương, nhóm Độc lập bắt đầu phân hoá cả về chủ trương, đường lối lẫn tổ chức. Acha Hem Chiêu chủ trương dựa vào thực dân Pháp để chống Nhật, còn Sơn Ngọc Thành lại chủ trương dựa vào Nhật để giành độc lập dân tộc. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương ( 9-3-1945), Sơn Ngọc Thành trở thành thủ tướng chính phủ bù nhìn thân Nhật ở Camphuchia, còn ở Acha Hem Chiêu vẫn tiếp tục giữ lập trường chống Nhật của mình.

Cùng với phong trào mang xu hướng tư sản do các nhà sư tiến bộ khởi xướng, từ năm 1930 ở Camphuchia cũng đã xuất hiện xu hướng vô sản. Sau khi thành lập, Đảng Cộng sản Đông Duơng đã nhanh chóng cử các Đảng viên Nhật cán bộ Việt Nam sang họat động, gây dựng cơ sở ở Phnômpênh và Côngpôngchàm. Cuối năm 1931, Đảng đã tổ chức cơ sở ở Căngđan, Crachê và đến năm 1934 ở Camphuchia đã có Ban cán sự Đảng với hơn 30 Đảng viên. Những họat động của Đảng đã làm xuất hiện nhiều hình thức đấu tranh mới như bãi công, đình công, biểu tình của công nhân các đồn điền cao su Takeo, Côngpôngchàm...Trong thời kỳ 1936 - 1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào cách mạng ở Camphuchia phát triển thêm một bước mới. Năm 1937, một Uỷ ban hành động được thành lập để hưởng ứng phong trào Đông Dương đại hội. Các sách báo tiến bộ của Đảng được lưu hành rộng rãi và thu hút đông đảo học sinh, sinh viên, trí thức và viên chức cùng đông đảo nhân dân.

Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ. Phát xít Nhật từng bước chiếm Đông Dương, đẩy nhân dân Đông Dương lâm vào cảnh một cổ hai tròng. Cũng như ở Việt Nam và Lào, thực dân Pháp đã hèn nhát dâng Camphuchia cho quân phiệt Nhật Bản. Chính sách của Nhật là biến Camphuchia thành cơ sở quân sự và vơ vét nguyên liệu phục vụ chiến tranh. Hậu quả của chính sách kinh tế của Nhật, Pháp đã dẫn tới tình trạng hàng vạn nông dân Camphuchia bị phá sản. Đồng thời, Nhật tìm cách ủng hộ những khát vọng về lãnh thổ của giới cầm quyền Băngkốc, buộc Pháp phải nhường cho Thái Lan tỉnh Xiêmriệp và Batđomboong ( 5- 1941) nhằm khoét sâu thêm tình trạng thù địch giữa các dân tộc trên bán đảo Trung - Ấn mà trước đó Pháp đã thực hiện. Đối với nhân dân Camphuchia, Nhật tìm cách đánh lừa bằng cách đưa ra những khẩu hiệu " Châu Á" huyễn hoặc hay hứa giúp đỡ, thủ tiêu chế độ thuộc địa của thực dân da trắng, khôi phục lại chủ quyền của Camphuchia. Mắc phải cạm bẫy của Nhật, phong trào " yêu nước" của những người theo  " chủ nghĩa dân tộc Khơme" đã nhanh chóng trở thành trò chơi trong tay cơ quan tình báo chính trị của  phát xít Nhật, và trở thành công cụ của Nhật để chống phá cách mạng Camphuchia (Nhật đã lập ra tổ chức do thám tay sai gọi là Neopoitui" và chính phủ tay sai do Sơn Ngọc Thành đứng đầu).

Bên cạnh những chính sách của Nhật, vào thời gian này thực dân Pháp lại thi hành chính sách hai mặt về chính trị, một mặt chúng thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh nhân dân (Đảng Cộng sản Đông Dương bị khủng bố ở Camphuchia), mặt khác lại giở trò ve vãn nhân dân Camphuchia để chuẩn bị hất cẳng Nhật khi có điều kiện. Chúng tuyên truyền các khẩu hiệu lừa bịp như ("Pháp - Miên  phục hưng " hay lập lờ, hoài cổ như "Hãy xứng với tổ tiên Ăngco của chúng ta"...

Những chính sách trên đây của Nhật, Pháp làm cho lực lượng yêu nước của Camphuchia bị chia rẽ và tổn thất nghiêm trọng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, từ năm 1939 - 1941 cách mạng Đông Dương chuuyển hướng chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên nhiệm vụ hàng đầu và vấn đề đó được giải quyết trong khuôn khổ của mỗi nước. Tháng 5 năm 1941, Đảng đã thành lập tổ chức Cao Miên độc lập đồng minh, tuy nhiên khi Chiến tranh thế giới II kết thúc và phát xít Nhật đầu hàng, do tương quan lực lượng nên ở Camphuchia vẫn không nổ ra cuộc cách mạng như dự định. Chính quyền vẫn nằm trong tay vua Xihanúc và thủ tướng bù nhìn thân Nhật Sơn Ngọc Thành.

Ngày 03 tháng 10 năm 1945, thực dân Pháp lại nổ súng đánh vào Phnômpênh. Chính phủ của Sơn Ngọc Thành đổ nhào và Xinanúc một lần nữa cúi đầu chấp nhận quyền "bảo hộ" của thực dân Pháp.

 

(1) Paul Bernad, Le Problème économique Indochinoise, Paris 1937, p.113.

Views: 10818 - Like: 0
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Top